Tin tức BSR

Kỳ 1: Lịch sử phát triển lĩnh vực lọc, hoá dầu Việt Nam: Giai đoạn đầu đầy gian nan
Ngày đăng : 06/01/2021 * Lượt xem: 132
   

Trong cơ cấu ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam, lĩnh vực lọc, hoá dầu là miếng ghép hoàn thiện để đưa các sản phẩm dầu khí trực tiếp vào cuộc sống. Trải qua nhiều biến thiên, những sản phẩm lọc, hoá dầu như xăng, dầu diesel, nhựa, đạm, tơ nhân tạo… mang dấu ấn tự chủ của người Việt đang ngày càng có chỗ đứng trên thị trường. Vậy lĩnh lọc, hoá dầu Việt Nam được hình thành như thế nào? Nhân dịp 10 năm ngày khánh thành nhà máy lọc dầu đầu tiên của đất nước – NMLD Dung Quất, chúng tôi xin giới thiệu loạt bài viết về lịch sử phát triển lĩnh vực lọc, hoá dầu Việt Nam.

Những dự án cơ sở đầu tiên

Ngày 18/3/1975, Việt Nam tìm thấy dòng khí đầu tiên tại Đông Cơ (huyện Tiền Hải, Thái Bình) trong niềm vui vỡ oà của những người đi tìm lửa. Điều này chứng minh cho việc Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được ngành công nghiệp dầu khí. Ngay khi từng bước hoàn thiện các lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác (khâu thượng nguồn) và vận chuyển, tàng trữ, phân phối (khâu trung nguồn) thì Chính phủ Việt Nam cũng nhanh chóng bắt tay vào việc đặt những viên gạch đầu tiên của khâu sau. Trong đó quan trọng là việc hình thành, xây dựng cơ sở vật chất cho lĩnh vực lọc, hoá dầu. Việc này được bắt đầu từ năm 1977, dự án Liên hiệp Lọc hoá dầu đầu tiên được hình thành trên cơ sở hợp tác với công ty Beicip của Pháp. Dự án dự kiến đặt tại Nghi Sơn (Thanh Hóa) với công suất 6 triệu tấn/năm, sản xuất nhiên liệu và một số loại sản phẩm hóa dầu. Năm 1979, dự án này đã dừng lại vì gặp khó khăn về nguồn vốn.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trực tiếp thị sát khu vực vịnh Dung Quất – Quảng Ngãi.

Tiếp theo dự án này, đầu những năm 1980, theo Hiệp định hợp tác Kinh tế - Khoa học kỹ thuật giữa hai nước Việt Nam và Liên Xô, hai bên đã thống nhất địa điểm xây dựng khu Liên hợp lọc - hóa dầu tại thành Tuy Hạ (huyện Long Thành, Đồng Nai). Khu Liên hợp lọc - hóa dầu dự kiến được đầu tư xây dựng trong 2 giai đoạn, giai đoạn 1 sẽ xây dựng một nhà máy lọc dầu với một dây chuyền chế biến dầu thô công suất 3 triệu tấn/năm. Giai đoạn 2 dự kiến đầu tư thêm một dây chuyền chế biến dầu thô để nâng công suất lọc dầu lên 6 triệu tấn/năm và hình thành một khu hóa dầu sản xuất chất dẻo, sợi tổng hợp và một dây chuyển sản xuất phân đạm.

Đầu những năm 1990, việc giải phóng một phần của 3.000 ha mặt bằng và khảo sát địa chất sơ bộ, chuẩn bị các điều kiện phụ trợ để xây dựng khu Liên hợp đã được phía Việt Nam tiến hành. Lúc này, phía Liên Xô cũng đã thực hiện xong thiết kế cơ sở và chuẩn bị các điều kiện đầu tư cho dự án. Tuy nhiên do tình hình chính trị và thể chế của Liên Xô thay đổi nên dự án khu Liên hợp lọc - hóa dầu tại thành Tuy Hạ không tiếp tục triển khai được theo hướng ban đầu.

Dung Quất – NMLD số 1 được hình thành

Trải qua nhiều dự án không triển khai được do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, đến năm 1994, địa điểm dự kiến đặt Nhà máy lọc dầu (NMLD) số 1 của Việt Nam được chốt lại tại một trong năm địa điểm: Nghi Sơn (Thanh Hoá), Hòn La (Quảng Bình), Dung Quất (Quảng Ngãi), Vân Phong (Khánh Hoà) và Long Sơn (Vũng Tàu). Sau nhiều khảo sát và tính toán, ngày 9/11, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ra quyết định chính thức chọn Dung Quất (Quảng Ngãi) là địa điểm đặt NMLD đầu tiên. Ban đầu, dự án được dự kiến triển khai với hình thức liên doanh với nước ngoài với tổng số vốn đầu tư từ 1,7 đến 1,8 tỷ USD. Nhưng khi không được phê duyệt một số ưu đãi đặc biệt về thuế, về bù lỗ dự án và điều kiện được phân phối sản phẩm trên thị trường Việt Nam nên đối tác rút lui khỏi dự án.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trong ngày cho ra dòng sản phẩm đầu tiên của NMLD Dung Quất.

Ngày 10/7/1997, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt xây dựng NMLD số 1 tại Dung Quất theo hình thức Việt Nam tự đầu tư. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) được Chính phủ giao là chủ đầu tư của dự án. Đến ngày 8/1/1998, lễ khởi công NMLD số 1 được chính thức tiến hành tại xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Thế nhưng, một lần nữa, công cuộc tiến hành xây dựng NMLD đầu tiên của đất nước lại gặp khó khăn bởi những ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính tại châu Á. Trước tình hình đó, phương án liên doanh với Liên bang Nga được tính đến. Ngày 25/8/1998, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga đã ký Hiệp định Liên Chính phủ về việc xây dựng, vận hành NMLD số 1 tại Dung Quất. Ngày 28/12/1998, Công ty Liên doanh Nhà máy lọc dầu Việt - Nga (Vietross) chính thức được thành lập. Tỷ lệ góp vốn của hai phía là 50/50. Việc liên doanh với Nga đã giải quyết được hai vấn đề lớn đó là kêu gọi được nguồn vốn đầu tư và huy động được các chuyên gia có kinh nghiệm để thực hiện dự án.

Trong quá trình làm việc, có những vấn đề nảy sinh giữa Vietross với tổ hợp nhà thầu và 2 bên trong liên doanh cũng không đồng thuận được 1 số vấn đề quan trọng. Do vậy hai bên đã đề nghị Chính phủ hai nước quyết định chấm dứt liên doanh. Ngày 05/01/2003, đại diện 2 bên đã ký biên bản chuyển giao toàn bộ nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia Liên doanh “Vietross” của phía Nga hoàn toàn sang phía Việt Nam. Con đường phát triển ngành lọc hoá dầu Việt Nam lại gặp phải trở ngại.

Vietross giải thể, dự án NMLD Dung Quất trở lại với phương án tự đầu tư và Ban Quản lý dự án NMLD Dung Quất được thành lập. Suốt nhưng năm sau đó, BQL đã phải giải quyết các vấn đề pháp lý của các hợp đồng sau khi chấm dứt Liên doanh, kiện toàn bộ máy tổ chức và xử lý các vướng mắc về kỹ thuật, công nghệ, tài chính; đồng thời lập kế hoạch đào tạo nhân sự cũng như kế hoạch sản xuất…

Tuy gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai, xây dựng nhưng với quyết tâm cao của Chính phủ, các bộ, ban ngành, địa phương cùng hàng vạn con người ngày đêm trên công trường, NMLD Dung Quất đã cho ra dòng sản phẩm thương mại đầu tiên ngày 22/2/2009. Sau nhiều đoạn trường, ngày 30/5/2010, dự án NMLD Dung Quất chính thức được bàn giao cho chủ đầu tư, kết thúc giai đoạn xây dựng và vận hành chạy thử và nghiệm thu nhà máy. Đến ngày 6/1/2011, lễ khánh thành NMLD Dung Quất long trọng được tổ chức; đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển lĩnh vực lọc, hoá dầu Việt Nam.

Từ ngày hoàn thiện tính đến hết năm 2019, NMLD Dung Quất đã đóng góp cho ngân sách nhà nước hơn 7 tỷ USD. Với công suất 6,5 triệu tấn dầu thô / năm (sau nâng cấp là 8,5 triệu tấn/năm), NMLD Dung Quất đã giúp Việt Nam đảm bảo được khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước và quan trọng nhất là giúp Tổ quốc đảm bảo được an ninh năng lượng. Và việc xây dựng, vận hành NMLD Dung Quất thành công đã đặt những viên gạch móng đầu tiên cho việc xây dựng, phát triển ngành lọc, hoá dầu Việt Nam.

                                                                           Thanh Hiếu

Tin liên quan
Ký các thỏa thuận và hợp đồng dài hạn về cung cấp dầu thô và tiêu thụ sản phẩm dầu

Ký các thỏa thuận và hợp đồng dài hạn về cung cấp dầu thô và tiêu thụ sản phẩm dầu

Ngày 22/01/2021, tại Hà Nội, Liên doanh Việt – Nga (Vietsovpetro), Tổng Công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PVOIL), Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) và Công ty cổ phần Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) đã tổ chức Lễ ký các thoả thuận và hợp đồng dài hạn về cung cấp dầu thô và tiêu thụ các sản phẩm dầu.
Năm 2021, BSR tận dụng mọi cơ hội để tăng tốc phát triển

Năm 2021, BSR tận dụng mọi cơ hội để tăng tốc phát triển

Ngày 19/1/2021, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đã tổ chức hội thảo “Các giải pháp để triển khai thành công kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2021 của BSR”.
BSR: Lợi nhuận quý 4 vượt mức 1.200 tỷ đồng

BSR: Lợi nhuận quý 4 vượt mức 1.200 tỷ đồng

Lợi nhuận sau thuế của Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) tiếp tục đà phục hồi quý thứ 2 liên tiếp. Quý IV/2020 lợi nhuận sau thuế đạt hơn 1.258 tỷ đồng, tăng 1.087 tỷ đồng so với quý 3 trong bối cảnh giá dầu thế giới cũng như giá xăng dầu trong nước duy trì xu hướng phục hồi trong suốt quý vừa qua.