Bản Tin Pháp Lý

Bản tin pháp lý Hưởng ứng ngày pháp luật Việt Nam 09/11
Ngày đăng : 19/11/2018 * Lượt xem: 199
   

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.

NỘI DUNG BẢN TIN

I.  NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM 9/11

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.

Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định “Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội.

Sau khi Luật phổ biến giáo dục, pháp luật được thông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến và giáo dục pháp luật, trong đó, các nội dung và hình thức tổ chức “Ngày Pháp luật” đã được quy định cụ thể tại Điều 6 của Nghị định này, đây là căn cứ pháp lý để việc triển khai Ngày pháp luật được thống nhất, hiệu quả trong mọi cơ quan, tổ chức. Các nội dung được tổ chức trong Ngày pháp luật Việt Nam như:

  • Khẳng định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội;
  • Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật;
  • Tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực đối với đời sống của nhân dân, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị;
  • Vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;
  • Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật;
  • Các nội dung khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Ngày 9/11 - Ngày Pháp luật Việt Nam là một sự kiện chính trị, pháp lý được tổ chức hằng năm, với mục đích và ý nghĩa vô cùng quan trọng:

1. Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật: Ngày Pháp luật được tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh Hiến pháp và pháp luật, đề cao giá trị của Hiến pháp và pháp luật trong nhà nước pháp quyền, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. Với ý nghĩa đó, trong ngày này, mọi tổ chức, cá nhân tập trung nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, góp phần đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống.

2. Xây dựng niềm tin, hành vi ứng xử phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật: Ngày pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp và pháp luật; xây dựng niềm tin, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật, ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật trong toàn dân.

3. Tăng cường công tác xây dựng, phổ biến giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: Đối với việc thi hành pháp luật, tổ chức Ngày Pháp luật nhằm động viên toàn xã hội thi hành pháp luật nghiêm minh, công bằng, thống nhất, kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm, quan tâm giải quyết khiếu nại, tố cáo; xây dựng nền hành chính trong sạch; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động hành chính, từ đó nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, khả năng thực thi pháp luật trong mọi hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động kinh tế xã hội và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân.

4. Hình thành, xây dựng và củng cố văn hóa pháp lý trong mọi hành vi: Việc thể hiện văn hóa pháp lý bắt đầu từ những hành động bình thường hàng ngày khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội; là lối sống văn minh, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định của địa phương nơi cư trú, của cơ quan, tổ chức… Văn hóa pháp luật, lối sống pháp luật được tạo lập từ thói quen ứng xử theo pháp luật của con người ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Lối sống theo pháp luật đòi hỏi trình độ nhận thức pháp luật, nhận thức vì sự cần thiết và giá trị xã hội của pháp luật từ phía mỗi cá nhân, tập thể.

 Ngày Pháp luật thực sự là một dịp tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật rất hiệu quả. Việc tổ chức Ngày Pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú về nội dung, phù hợp điều kiện thực tế của từng địa phương, từng tổ chức, doanh nghiệp và theo giai đoạn phát triển của đất nước sẽ giúp cho những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến gần với người dân hơn và dễ dàng đi vào cuộc sống.

II. HƯỚNG ỨNG NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM  NĂM 2018

1. Ngày 07/8/2018, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2761/QĐ-BCT ban hành Kế hoạch hưởng ứng “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2018.

- Chủ đề: Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

- Nội dung hoạt động:

+ Tổ chức quán triệt, phổ biến nội dung triển khai Ngày Pháp luật năm 2018 tại cơ quan, đơn vị: Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, trực thuộc Bộ chỉ đạo, quán triệt, phổ biến đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động, nhà giáo và học sinh, sinh viên nội dung, hình thức, nhiệm vụ triển khai Ngày Pháp luật; xác định chủ đề, lựa chọn nội dung, hình thức, cách làm phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị.

+ Tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cho toàn thể công chức, viên chức, người lao động trong các đơn vị thuộc Bộ Công Thương bao gồm các hoạt động:

  • Tiếp tục lồng ghép quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách mới ban hành, giới thiệu nội dung các văn bản mới trong phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị, phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương;
  • Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Bộ Công Thương gương mẫu, tự gíác học tập, tìm hiểu các quy định mới ban hành, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ nhân dân; chủ động học tập, nâng cao năng lực, kỹ năng xây dựng, hoàn thiện pháp luật; thi hành pháp luật; tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thi hành công vụ; tăng cường phối hợp, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị.
  • Các hoạt động khác phù hợp với điều kiện đặc thù của từng cơ quan, đơn vị.
  • Đơn vị thực hiện: Các đơn vị thuộc Bộ, trực thuộc Bộ.
  • Thời gian thực hiện: Cả năm 2018, tập trung trong tháng cao điểm (Từ ngày 01/10 đến ngày 30/11/2018).

2. Bộ Công Thương tổ chức Lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2018:

Chiều ngày 26/10/2018, Bộ Công Thương đã long trọng tổ chức Lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tham dự buổi Lễ có Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng, Lãnh đạo các Cục, Vụ, các Tập đoàn, Tổng công ty thuộc Bộ Công Thương, Lãnh đạo Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật thuộc Bộ Tư pháp.

Tại buổi lễ, Bộ Công Thương đã tổ chức khen thưởng các tập thể, cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Ngày Pháp luật Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017. Thay mặt Lãnh đạo Bộ Công Thương, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đã trao Bằng khen của Bộ trưởng cho 17 tập thể và 26 cá nhân. Tại đợt khen thưởng này, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có 3 tập thể và 4 cá nhân được khen thưởng, trong đó Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn có 01 cá nhân được nhận vinh dự này.

Phát biểu tại buổi Lễ, Thứ trưởng đánh giá cao những thành tích đã đạt được trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và công tác triển khai Ngày Pháp luật nói riêng của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong Ngành. Trên cơ sở kết quả đạt được về việc tổ chức, thực hiện Ngày pháp luật Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017 và nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2018 với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Thứ trưởng yêu cầu: Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường kinh doanh; tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính và các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.

3. Ngày 02/11/2018, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ban hành Công văn số  6720/DKVN-PC&KTr về việc hưởng ứng Kế hoạch Ngày pháp luật Việt Nam năm 2018, trong đó Tập đoàn đề nghị các đơn vị tiến hành triển khai thực hiện Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2018 tại cơ quan, đơn vị phù hợp và phục vụ tốt hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.

4. Kế hoạch hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam năm 2018 của Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn:

      - Phổ biến, tuyên truyền về Ngày pháp luật Việt Nam 9/11:

  • Phổ biến Luật phổ biến giáo dục pháp luật (qua mạng LAN, mạng lưới Cộng tác viên pháp lý);
  • Xây dựng Bản tin pháp lý tháng 11/2018 có nội dung tuyên truyền về Ngày pháp luật Việt Nam;
  • Xây dựng bản tin pháp lý chuyên đề “Pháp luật lao động”;
  • Nghiên cứu việc tổ chức hội thảo pháp luật chuyên đề về các vấn đề liên quan đến hoạt động SXKD của BSR;
  • Tổng kết công tác phổ biến pháp luật năm 2018 tại Công ty.

       - Hoàn thiện hệ thống Quy chế Công ty cổ phần để làm cơ sở quản lý, điều hành Công ty cổ phần;

       - Tổ chức đánh giá sự tuân thủ pháp luật trong Công ty;

       - Treo pano, áp phích hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam tại Trụ sở Công ty, Nhà máy và tuyên truyền về Hiến pháp, pháp luật bằng các màn hình của Công ty.

III. PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

 1. Một số nội dung Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013:

CHƯƠNG I - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ (Điều 1 đến Điều 13)

Điều 1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

 Điều 2. 

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Điều 3.

Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 5.

1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Điều 6.

Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Điều 7.

1. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.

Điều 8.

1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.

Điều 9.

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

2. Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.

Điều 10.

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 11.

1. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

2. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.

Điều 12.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Điều 13.

1. Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

2. Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca.

4. Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

5. Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.

CHƯƠNG IV -  BẢO VỆ TỔ QUỐC (Điều 64 đến Điều 68)

Điều 64.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh.

Điều 65.

Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Điều 66.

Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. 

Điều 67.

Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Điều 68.

Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.

2. Luật số 14/2012/QH13 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật 

Điều 1. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Điều 2. Quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân:

Công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật.

Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật.

Điều 5. Về các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật:

Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực.

Kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm.

Đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.

Gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân.

Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội.

 Điều 8. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội.

Điều 9. Các hành vi bị cấm trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật:

Truyền đạt sai lệch, phê phán nội dung pháp luật được phổ biến; không cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Cản trở việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Lợi dụng việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật để gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây mất trật tự, an toàn xã hội.

Điều 11. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

1. Họp báo, thông cáo báo chí.

2. Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật.

3. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư.

4. Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật.

5. Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở.

6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở.

7. Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

8. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.

Điều 18.Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp

1. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp tập trung vào quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động, pháp luật về việc làm, an toàn vệ sinh lao động, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, pháp luật công đoàn và các quy định khác của pháp luật về lao động.

2. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp được chú trọng thực hiện thông qua việc phổ biến trực tiếp, niêm yết các quy định pháp luật tại nơi làm việc, tủ sách pháp luật, giỏ sách pháp luật, tờ gấp, lồng ghép trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, bảo đảm các điều kiện cần thiết để phổ biến, giáo dục pháp luật; phối hợp với tổ chức công đoàn tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp.

4. Tổ chức công đoàn có trách nhiệm chủ trì vận động người lao động tìm hiểu, học tập pháp luật.

Điều 28.Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức

1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý, chú trọng thực hiện thông qua phổ biến pháp luật trực tiếp, đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử, báo, bản tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nếu có); kết hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động chuyên môn.

2. Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Điều 32. Trách nhiệm của gia đình

Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành pháp luật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo dục và tạo điều kiện cho con, cháu tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.

(Toàn văn Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Nghị định số 28/2013/NĐ-CP, Quyết định số 2761/QĐ-BCT được cập nhật tại Thư viện pháp luật, địa chỉ P:\06.Document System\Thu Vien Phap Luat.)

Tin liên quan
Bản tin pháp lý chuyên đề pháp luật lao động

Bản tin pháp lý chuyên đề pháp luật lao động

Bản tin pháp lý chuyên đề pháp luật lao động
Bản tin pháp lý tháng 09/2018

Bản tin pháp lý tháng 09/2018

Một số văn bản pháp luật/quản lý nhà nước ban hành trong tháng 9/2018:
Ban tin pháp lý tháng 8/2018

Ban tin pháp lý tháng 8/2018

Ban tin pháp lý tháng 8/2018